Theo quan niệm ngũ hành, đá hợp mệnh được chọn theo màu: đá cùng màu với hành của mệnh là đá bản mệnh, đá mang màu của hành sinh ra mệnh là đá tương sinh, còn đá mang màu của hành khắc mệnh thì được khuyên tiết chế. Muốn tra, bạn cần hai bước: từ năm sinh âm lịch tìm ra mệnh nạp âm, rồi từ mệnh đọc nhóm màu đá.
Ví dụ người sinh năm 1990 (Canh Ngọ, Lộ Bàng Thổ) theo quan niệm hợp đá vàng, nâu như thạch anh vàng, mắt hổ nâu vàng; đá tương sinh là nhóm đỏ, hồng, tím vì Hoả sinh Thổ; nhóm xanh lá được khuyên dè dặt vì Mộc khắc Thổ. Bảng dưới đây tra được cho mọi năm sinh từ 1950 đến 2027, kèm một điều mà các bảng đá theo mệnh thường bỏ qua: viên đá có chịu nổi việc đeo hằng ngày hay không.
Bước một: năm sinh của bạn thuộc mệnh gì
Mệnh dùng để chọn đá là mệnh nạp âm, tính theo năm can chi âm lịch, mỗi nạp âm kéo dài hai năm liền. Bảng dưới tính từ chu kỳ 60 năm, không chép tay:
| Mệnh | Các cặp năm sinh (1950–2027) |
|---|---|
| Kim | 1954–1955, 1962–1963, 1970–1971, 1984–1985, 1992–1993, 2000–2001, 2014–2015, 2022–2023 |
| Mộc | 1950–1951, 1958–1959, 1972–1973, 1980–1981, 1988–1989, 2002–2003, 2010–2011, 2018–2019 |
| Thuỷ | 1952–1953, 1966–1967, 1974–1975, 1982–1983, 1996–1997, 2004–2005, 2012–2013, 2026–2027 |
| Hoả | 1956–1957, 1964–1965, 1978–1979, 1986–1987, 1994–1995, 2008–2009, 2016–2017, 2024–2025 |
| Thổ | 1960–1961, 1968–1969, 1976–1977, 1990–1991, 1998–1999, 2006–2007, 2020–2021 |
Người sinh trong tháng 1 hoặc tháng 2 dương lịch cần đối chiếu ngày Tết Nguyên đán của năm đó. Tết rơi trong khoảng cuối tháng 1 đến giữa tháng 2, nên người sinh ngày 25 tháng 1 năm 1993 vẫn còn thuộc năm Nhâm Thân 1992 (Kiếm Phong Kim), vì Tết Quý Dậu năm ấy là ngày 23 tháng 1. Lệch một năm có khi lệch cả mệnh.
Cũng nên phân biệt mệnh nạp âm với cung phi. Cung phi (Khảm, Ly, Càn, Khôn…) dùng cho hướng nhà và tính khác nhau giữa nam và nữ; còn chuyện chọn đá, chọn màu theo cách phổ biến ở Việt Nam là dựa vào mệnh nạp âm, giống nhau cho nam và nữ cùng năm sinh.
Bước hai: bảng màu đá cho từng mệnh
Đá được xếp vào hành theo màu chủ đạo của viên đá chứ không theo tên gọi. Một loại đá có nhiều màu, như mã não hay thạch anh, sẽ rơi vào nhiều hành khác nhau:
| Mệnh | Đá bản mệnh (cùng hành) | Đá tương sinh (hành sinh ra mệnh) | Nên tiết chế (hành khắc mệnh) |
|---|---|---|---|
| Kim | trắng, xám, ánh bạc: thạch anh trắng, đá mặt trăng, thạch anh tóc bạc | vàng, nâu (Thổ sinh Kim): thạch anh vàng, mắt hổ nâu vàng, thạch anh khói nhạt | đỏ, hồng, tím (Hoả) |
| Mộc | xanh lá: ngọc bích, thạch anh xanh, cẩm thạch, peridot | đen, xanh dương (Thuỷ sinh Mộc): obsidian, aquamarine, thạch anh tóc đen | trắng, xám, ánh bạc (Kim) |
| Thuỷ | đen, xanh dương: obsidian, tourmaline đen, aquamarine, sapphire xanh | trắng, ánh bạc (Kim sinh Thuỷ): thạch anh trắng, đá mặt trăng | vàng, nâu (Thổ) |
| Hoả | đỏ, hồng, tím, cam: garnet, thạch anh hồng, thạch anh tím, mã não đỏ | xanh lá (Mộc sinh Hoả): ngọc bích, thạch anh xanh | đen, xanh dương (Thuỷ) |
| Thổ | vàng, nâu: thạch anh vàng, mắt hổ vàng nâu, hổ phách, thạch anh khói | đỏ, hồng, tím (Hoả sinh Thổ): garnet, thạch anh hồng, thạch anh tím | xanh lá (Mộc) |
Bảng này là cách xếp phổ biến nhất chứ không phải bản duy nhất. Có nguồn xếp thạch anh tím vào Thuỷ vì sắc tím lạnh, có nguồn xếp hổ phách vào Hoả vì loại đỏ cam; ngọc trai có nơi xếp vào Kim, có nơi xếp vào Thuỷ. Khi gặp hai bảng nói khác nhau, cứ nhìn màu thật của viên đá trên tay và đọc theo màu, cách đó nhất quán với gốc của quan niệm.
Cột "nên tiết chế" không có nghĩa là cấm. Trong quan niệm, đó là hành khắc mệnh, nên người ta khuyên đừng chọn làm đá chủ đạo; một hạt điểm xuyết trong chuỗi nhiều màu thì gần như không ai bàn tới.
Cùng mệnh nhưng khác nạp âm: có cần chọn đá khác không
Mỗi mệnh có sáu nạp âm, như mệnh Kim gồm Hải Trung Kim, Kiếm Phong Kim, Bạch Lạp Kim, Sa Trung Kim, Kim Bạch Kim, Thoa Xuyến Kim. Bảng chọn đá phổ biến gộp cả sáu vào một nhóm và đọc chung theo hành Kim. Đó là cách dùng của đa số sách phổ thông và người bán đá, và cũng là cách bài này theo.
Tuy vậy, trong sách lý số có một lớp giải thích sâu hơn, thường gọi là "ngoại lệ nạp âm": vài nạp âm được cho là không sợ hành khắc mình, thậm chí cần đến nó. Ví dụ hay được nhắc là Kiếm Phong Kim và Sa Trung Kim được cho là cần lửa để rèn thành vật dụng, Đại Hải Thuỷ được cho là không sợ đất, Thiên Thượng Hoả (lửa mặt trời) không sợ nước. Theo lớp giải thích này, người sinh 1992–1993 (Kiếm Phong Kim) đeo đá đỏ không bị xem là khắc.
Các ngoại lệ này không được thống nhất giữa các nguồn: có sách liệt kê bốn trường hợp, có sách liệt kê tám, có sách không nhắc. Vì vậy cách điềm tĩnh là dùng bảng chung làm mặc định, coi ngoại lệ như một lời giải thích thêm nếu bạn đã thích một màu "bị khắc". Đừng để một quy tắc còn tranh cãi trở thành lý do bỏ món đồ mình ưng ý.
Đọc màu đá theo ngũ hành sao cho đúng
Nhìn màu nền, không nhìn ánh phản chiếu. Thạch anh khói dưới đèn vàng trông như nâu đỏ, ra nắng lại thành xám nâu. Đặt viên đá trên tờ giấy trắng dưới ánh sáng ban ngày gần cửa sổ, màu nhìn thấy lúc đó là màu nên dùng để xếp hành.
Đá nhiều màu thì lấy màu chiếm phần lớn. Mã não vân, thạch anh tóc, đá có đốm thường có hai ba màu. Quan niệm phổ biến lấy màu chiếm diện tích lớn nhất làm hành chính, màu vân hay tóc là phần phụ.
Đá trong suốt không màu thuộc Kim. Thạch anh trắng, pha lê trong được xếp vào Kim vì sắc trắng, sáng. Đây cũng là nhóm đá mà nhiều nguồn nói "hợp với mọi mệnh", vì không màu thì ít khi rơi vào ô khắc của ai, trừ người mệnh Mộc theo bảng nghiêm.
Tên đá không quyết định hành. "Ngọc" có ngọc bích xanh lá, ngọc trắng, ngọc vàng; "mắt hổ" có vàng nâu, xanh lam, đỏ. Nghe tên mà xếp hành là cách dễ nhầm nhất, nhất là khi người bán gọi theo tên thương mại.
Đá đã nhuộm vẫn là màu đã nhuộm. Nhiều chuỗi mã não màu rực, thạch anh xanh rẻ là đá nhuộm. Theo logic màu, chúng vẫn được đọc theo màu đang thấy, nhưng màu nhuộm phai dần theo mồ hôi và nắng, nên viên đá có thể "đổi hành" sau một hai năm đeo. Đó là lý do nên hỏi rõ đá tự nhiên hay đã xử lý trước khi mua.
Độ bền khi đeo hằng ngày: điều bảng màu không nói
Hai viên đá cùng màu, cùng hành có thể khác nhau rất xa về độ cứng và khả năng chịu mồ hôi, nước, mỹ phẩm. Thang Mohs đo khả năng chống trầy (kính cửa sổ khoảng 5,5, bụi cát thường chứa thạch anh độ cứng 7):
| Đá | Hành theo màu thường gặp | Độ cứng Mohs (xấp xỉ) | Lưu ý khi đeo hằng ngày |
|---|---|---|---|
| Thạch anh các màu | tuỳ màu | 7 | bền, chịu va chạm vừa; tím, hồng có thể nhạt màu nếu phơi nắng lâu |
| Mã não | tuỳ màu | 6,5–7 | bền; loại nhuộm dễ phai theo mồ hôi |
| Mắt hổ | Thổ (vàng nâu) | khoảng 7 | bền, ánh sáng chạy là đặc trưng tự nhiên |
| Ngọc bích (nephrite) | Mộc | 6–6,5 | rất dai, ít vỡ dù không cứng nhất |
| Obsidian | Thuỷ | 5–5,5 | là thuỷ tinh núi lửa, dễ mẻ cạnh khi va vào bàn, tường |
| Hổ phách | Thổ, Hoả | 2–2,5 | rất mềm, kỵ nhiệt, cồn, nước hoa; dễ trầy |
| Ngọc trai | Kim, Thuỷ | 2,5–4,5 | kỵ mồ hôi chua, mỹ phẩm, chất tẩy |
Người làm việc tay chân nhiều, hay chống tay lên bàn, hay rửa bát, nên chọn đá độ cứng từ 6,5 trở lên cho vòng đeo hằng ngày. Đá mềm như hổ phách, ngọc trai hợp làm mặt dây hoặc trang sức đeo dịp, đỡ phải thay sớm.
Khi mệnh hợp một màu mà bạn không thích màu đó
Đây là tình huống rất hay gặp: người mệnh Thuỷ được khuyên đeo đá đen, nhưng da sáng đeo đá đen to lại thấy nặng nề; người mệnh Mộc không thích màu xanh lá. Quan niệm ngũ hành có sẵn lối ra: ngoài đá bản mệnh còn có đá tương sinh, nên mỗi mệnh có ít nhất hai nhóm màu để chọn. Người mệnh Thuỷ không thích đen có thể chọn thạch anh trắng, đá mặt trăng của Kim, vì Kim sinh Thuỷ.
Lối ra thứ hai là kích thước. Một chuỗi hạt nhỏ 6 ly, một mặt nhẫn nhỏ, một hạt điểm trong vòng bạc đều đủ để mang ý nghĩa mà không lấn át trang phục. Không có quan niệm nào nói đá phải to mới "đủ".
Lối ra thứ ba thực tế nhất: đeo thứ mình thấy đẹp và dễ chịu. Một món trang sức mà ngày nào cũng ngại đeo thì dù đúng mệnh đến đâu cũng chỉ nằm trong hộp. Bảng hợp mệnh là gợi ý văn hoá để chọn khi phân vân, không phải lý do để mua thứ mình không muốn đeo.
Muốn xem các mẫu vòng đá, nhẫn và mặt dây theo màu mệnh có ghi rõ chất liệu, có thể tham khảo vatphamphongthuy.com.
Những điều quan niệm đá hợp mệnh không hứa
Đọc bảng đá theo mệnh như một nét văn hoá thì rất thú vị; đọc như lời hứa thì dễ bị lợi dụng. Vài ranh giới nên giữ:
- Không có nghiên cứu nào cho thấy đeo đá đúng mệnh làm thay đổi sức khoẻ, thu nhập hay chuyện tình cảm. Các lời quảng cáo "năng lượng đá chữa mất ngủ, hạ huyết áp" là lời bán hàng, không phải kết quả kiểm chứng.
- Đá "đúng mệnh" không đắt hơn đá "sai mệnh". Giá đá phụ thuộc loại đá, độ trong, màu, kích thước, có xử lý hay không; nếu người bán nâng giá vì "hợp tuổi bạn", đó là dấu hiệu nên dừng lại.
- Không cần bỏ đá cũ chỉ vì vừa biết nó "khắc mệnh". Một món trang sức gắn với kỷ niệm có giá trị riêng mà bảng ngũ hành không đo được.
- Không đeo đá thay cho việc đi khám, đi làm thủ tục, hay quyết định chuyện lớn. Viên đá là món đồ mang ý nghĩa, mọi việc quan trọng vẫn cần thông tin và người chuyên môn.
- Kiểm định, thật giả và giá cả là chuyện của người làm nghề đá quý; muốn mua đá giá trị cao, hãy yêu cầu giấy kiểm định từ phòng thí nghiệm độc lập.
Câu hỏi thường gặp
Vợ chồng khác mệnh có nên đeo chung một loại đá không?
Được, nếu chọn nhóm màu nằm ở vùng an toàn của cả hai. Ví dụ chồng mệnh Kim, vợ mệnh Thuỷ thì đá trắng, ánh bạc là bản mệnh của chồng và tương sinh của vợ. Hai mệnh khắc nhau trực tiếp như Thuỷ và Hoả thì mỗi người một màu, hoặc chọn đá trong suốt làm điểm chung.
Trẻ nhỏ có cần chọn đá theo mệnh không?
Không cần, và vòng hạt cho trẻ dưới ba tuổi còn tiềm ẩn nguy cơ hóc, siết cổ nếu dây đứt. Nếu gia đình muốn giữ tập quán, có thể đặt một viên đá theo mệnh của bé ở kệ cao trong phòng thay vì đeo lên người, đợi khi trẻ lớn hơn mới tính đến trang sức.
Một người đeo nhiều loại đá khác màu có sao không?
Theo quan niệm, chuỗi nhiều màu được xem là cân bằng nhiều hành, nên không bị coi là xấu. Người kỹ tính thường chỉ tránh để màu của hành khắc mệnh chiếm phần lớn chuỗi. Về thẩm mỹ, hai đến ba màu thường dễ phối với quần áo hơn năm màu cùng lúc.
Sinh năm nhuận âm lịch hay sinh đúng ngày Tết thì tính mệnh thế nào?
Tháng nhuận không làm đổi năm can chi, nên mệnh vẫn theo năm âm lịch bình thường. Người sinh đúng mùng 1 Tết đã thuộc năm mới. Người sinh đêm giao thừa thì xem giờ sinh trước hay sau thời khắc giao thừa; trường hợp không nhớ giờ, nhiều gia đình chọn theo năm mới cho dễ nhớ.
Có nên chọn đá theo con giáp thay vì theo mệnh không?
Hai cách khác nhau. Con giáp thường đi với mặt dây hình con vật hoặc Phật bản mệnh, còn đá theo màu đi với mệnh nạp âm. Có thể kết hợp: mặt dây hình con giáp tam hợp làm bằng loại đá có màu hợp mệnh, vừa đủ hai ý nghĩa trên một món đồ.
Mệnh của năm sinh và mệnh trong lá số tử vi có giống nhau không?
Mệnh dùng ở đây là nạp âm của năm sinh, ai sinh cùng năm âm lịch đều giống nhau. Lá số tử vi đẩu số dùng thêm tháng, ngày, giờ sinh và có hệ thống riêng về cung, sao. Chọn đá và màu theo cách phổ biến chỉ cần năm sinh, không cần lập lá số.